Đến Bát Tràng, tôi rất để ý cái Văn chỉ. Ngoài cổng du khách phải ngước mắt lên nhìn một hàng chữ: “Ngưỡng di cao”. Qua lời kể của hậu nhân Bát Tràng, các cụ khắc chữ ấy là để nhắc nhở con cháu phải biết khiêm cung trước tri thức. Người Bát Tràng tự răn dạy con cháu rằng học vấn là biển cả mênh mông. Dù một người đã đỗ đạt khoa bảng, mang danh “nên thợ, nên thầy” thì trước đạo học vẫn phải luôn cúi đầu khiêm nhường, không ngừng học hỏi và tu sửa mình. Họ cũng dặn phải có khát vọng tiến thân bằng tri thức. Đối với một làng nghề đặc thù “vô canh” (không có ruộng đất nông nghiệp), sự học chính là con đường đưa dòng họ vươn lên. Ba chữ này tại cổng Văn chỉ như một chiếc “mỏ neo tinh thần”, thôi thúc các thế hệ học trò xưa thì bền bỉ dùi mài kinh sử để làm rạng danh cho gia tộc và quê hương, nay thì chăm chỉ tu nghiệp tiếp thu tiến bộ khoa học kĩ thuật của thế giới để phát triển sản xuất và kinh doanh. Một bên là sự bền bỉ đời nối đời lửa nghề không bao giờ tắt, một bên là dòng chảy của tinh thần hiếu học không ngừng nghỉ đã đúc nên một tinh thần Bát Tràng không chỉ giàu có về vật chất, mà còn phong phú và sâu sắc về tâm hồn.
Tìm hiểu thêm, ta thấy cả một nỗ lực gìn giữ di sản văn hóa từ ngàn đời, thấy được một năng lực di truyền gien văn hóa mà không phải chỗ nào cũng có.
Câu “Ngưỡng di cao” ấy nằm trong sách Luận ngữ của Khổng Tử, ghi lại lời Nhan Uyên, người học trò xuất sắc nhất của thầy Khổng, bộc bạch về đạo học và nhân cách của thầy mình:
Nhan Uyên vị nhiên thán viết: “Ngưỡng chi di cao, toan chi di kiên; chiêm chi tại tiền, hốt yên tại hậu. Phu tử tuần tuần nhiên thiện dụ nhân, bác ngã dĩ văn, ước ngã dĩ lễ, dục bãi bất năng. Ký kiệt ngô tài, như hữu sở lập trác nhĩ. Tuy dục tòng chi, mạt do dã dĩ.”
Dịch nhanh ra là:
Nhan Uyên cảm thán nói: “Ngẩng lên nhìn, đạo của thầy càng cao vời vợi; dùi mài nghiên cứu, càng thấy vững chắc vô cùng. Mới thấy sừng sững ở trước mặt, bỗng chốc đã biến hóa ở sau lưng. Thầy khéo léo, tuần tự từng bước dẫn dắt người; lấy văn chương sách vở để mở rộng kiến thức của ta, lấy lễ tiết để khuôn thước hành vi của ta, khiến ta dù muốn ngừng học cũng không thể ngừng được. Ta đã dốc cạn hết tài sức của mình, nhưng đạo của thầy vẫn sừng sững vươn cao ở đó. Dẫu ta muốn noi theo, cũng không biết làm thế nào để theo cho kịp.”
Đây là lời tự sự, ca ngợi chân thành nhất về đạo đức, học vấn và nhân cách của bậc thánh nhân. Chân lý và tri thức trong mắt người hiếu học thật biến ảo kỳ diệu.
Tinh thần hướng lên cao đấy được lưu truyền ở Bát Tràng và đã đi vào tâm thức của người dân nơi đây. Ở đây có cao nhân, những nghệ nhân ưu tú, những chủ doanh nghiệp nắm trong tay chuỗi cung ứng xuất khẩu hàng triệu đô la Mỹ, sở hữu những công thức men độc bản không thể sao chép. Họ không rơi xuống từ trên trời mà phải truyền đời tự mày mò, tìm tòi, và du nhập cách làm gốm, chế ra các loại men đặc biệt, tiếp thu các loại lò khác nhau qua từng thế hệ công nghệ. Họ túa đi học khắp nơi, trong và ngoài nước. Ngày nay họ cũng đã biết dùng công nghệ thông tin, công nghệ in 3D, công nghệ vật liệu tiên tiến, công nghệ đốt lò mới để giảm phát thải, vận dụng quy trình quản trị chất lượng khắt khe, hay có khả năng tiếp thị giỏi để đưa sản phẩm ra khắp thế giới. Lửa nghề chưa bao giờ tắt, mạch học hỏi cũng chưa bao giờ ngừng nghỉ. Với hàng nghìn mẫu mã, kiểu dáng gốm đặc sắc, có thể đây là một trong những cơ sở RnD đáng nể nhất trong các làng nghề ở Việt Nam. Sức sáng tạo mạnh mẽ không giới hạn.
Về hệ thống Văn miếu
Nhìn rộng ra, ta thấy hệ thống Văn Miếu, Văn Từ và Văn Chỉ là những di sản vật thể và phi vật thể vô giá, phản ánh đỉnh cao tinh thần “tôn sư trọng đạo”, truyền thống hiếu học và sự bản địa hóa Nho giáo trong đời sống làng xã Việt Nam suốt nhiều thế kỷ.
Trong lịch sử quân chủ Việt Nam, thiết chế thờ phụng Khổng Tử cùng các bậc hiền triết Nho giáo và danh nhân khoa bảng được phân cấp vô cùng nghiêm ngặt từ trung ương xuống làng xã thông qua ba cấp độ Văn Miếu, Văn Từ, và Văn Chỉ.
Văn Miếu (hay Văn Thánh miếu) là công trình thờ tự chính thống do nhà nước quân chủ hoặc quan đầu tỉnh, đầu trấn đứng ra xây dựng ở cấp Trung ương (kinh đô) hoặc cấp tỉnh, trấn. Chữ “Miếu” nghĩa là đền thờ tôn nghiêm. Đây là một quần thể kiến trúc quy mô lớn, có tường bao quanh, cổng tam quan, hồ nước, điện thờ chính (như Đại Thành Điện), nhà Thái học (trường học) và vườn bia Tiến sĩ vinh danh tầm quốc gia.
Trong khi đó, Văn Chỉ và Văn Từ là thiết chế thờ tự ở cấp cơ sở tự trị, thuộc quyền quản lý trực tiếp của cộng đồng địa phương (cấp phủ, huyện, tổng, xã, hoặc thôn làng). Làng xã cấp dưới không có tư cách và quyền hạn hành chính để xây dựng một ngôi “Miếu” (vốn chỉ dành cho hoàng gia và quan lại nhà nước tế lễ), vì vậy họ xây dựng Văn chỉ hoặc Văn từ.
Chữ “Chỉ” mang ý nghĩa là bệ thờ, nền đất. Thuở sơ khai, các làng quê chỉ đắp một bệ đá ngoài trời trên một gò đất cao ráo để cúng tế Khổng Tử và Tiên hiền, gọi là Văn chỉ. Khi làng xã có điều kiện kinh tế hoặc có nho sĩ đỗ đạt cao, họ xây dựng thêm nhà che mái che trang trọng, bệ thờ lộ thiên lúc này tiến hóa thành ngôi đền lợp ngói, gọi là Văn từ. Lúc đầu người xưa quy định làng nào có người đỗ đạt Tiến sĩ (đại khoa) trở lên thì Văn chỉ mới được xây mái che (thành Văn từ), còn nơi nào chỉ có người đỗ đạt trung khoa (Cử nhân) hoặc tiểu khoa (Tú tài) trở xuống thì chỉ được xây bệ thờ lộ thiên (Văn chỉ) mà không được làm mái. Tuy nhiên, theo thời gian, ranh giới này mờ dần và dân gian thường gọi chung hai danh xưng này làm một.
Tại Việt Nam, qua các triều đại, hệ thống Văn Miếu được xây dựng ở các cấp hành chính cao nhất. Thống kê lịch sử ghi nhận Việt Nam từng tồn tại 2 Văn Miếu cấp quốc gia và 28 Văn Miếu cấp tỉnh/trấn:
- Văn Miếu cấp Quốc gia:
- Văn Miếu – Quốc Tử Giám Thăng Long (Hà Nội): Được tạo lập năm 1070 dưới triều vua Lý Thánh Tông. Đây là Văn miếu đầu tiên của Việt Nam, là trường đại học quốc gia đầu tiên và hiện còn lưu giữ 82 tấm bia Tiến sĩ.
- Văn Miếu Huế (Thừa Thiên Huế): Được vua Gia Long cho xây dựng quy mô lớn tại xã Long Hồ (bên bờ sông Hương) vào năm 1808 để làm trung tâm học thuật và thờ phụng của vương triều nhà Nguyễn, hiện lưu giữ 32 tấm bia Tiến sĩ thời Nguyễn.
- Văn Miếu cấp Tỉnh/Trấn tiêu biểu:
- Miền Bắc (14 di tích): Tiêu biểu có Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương) – trung tâm khoa bảng lớn thứ hai miền Bắc sau Thăng Long; Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên); Văn Miếu Bắc Ninh (nơi ghi danh hơn 600 vị tiến sĩ xứ Kinh Bắc xưa); cùng các Văn miếu tỉnh Vĩnh Phúc, Sơn Tây, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, v.v.
- Miền Trung (10 di tích): Tiêu biểu có Văn Miếu Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (Diên Khánh), và Bình Thuận.
- Miền Nam (4 di tích): Nổi bật nhất là Văn Miếu Trấn Biên (Biên Hòa, Đồng Nai) – được xây dựng năm 1715, là Văn miếu đầu tiên của vùng đất Nam Bộ; Văn Thánh Miếu Vĩnh Long (xây dựng năm 1864 do cụ Phan Thanh Giản chủ trì); Văn miếu Gia Định và An Giang.
Lập Văn chỉ hay Văn từ là một đặc quyền văn hóa tự trị của làng xã. Tuy nhiên, không phải làng quê nào cũng có Văn chỉ. Chỉ những ngôi làng có truyền thống khoa bảng sâu dày, có nhiều người đỗ đạt làm quan hoặc làm thầy đồ dạy học mới đủ tư cách và tài lực để thiết lập Văn chỉ riêng của làng. Làng lập Văn chỉ để “đua danh” học thuật với các làng lân cận, khẳng định cốt cách và danh giá của địa phương mình.
Các ngôi làng khoa bảng có hệ thống Văn chỉ/Văn từ nổi tiếng nhất lịch sử gồm:
- Làng cổ Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội): Nằm ngay phía sau ngôi đình cổ kính bên bờ sông Hồng, là nơi ghi danh 364 vị khoa bảng, 1 Trạng nguyên (Giáp Hải) và 8 Tiến sĩ.
- Làng Nguyệt Áng (Thanh Trì, Hà Nội): Có hệ thống Văn chỉ còn nguyên vẹn nhất vùng ngoại thành Hà Nội, do chính Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh lập năm 1667 trước khi ông đi sứ phương Bắc. Làng nổi danh khoa bảng với 11 người đỗ đại khoa (1 Trạng nguyên, 1 Thám hoa, 9 Tiến sĩ) và 29 Cử nhân/Hương cống. Tấm bia “Từ vũ bia ký” tại Văn chỉ làng ghi chép vô cùng tỉ mỉ thân thế, sự nghiệp các vị tiến sĩ quê hương.
- Làng Ngọc Quan (Lương Tài, Bắc Ninh): Mảnh đất được mệnh danh là nơi “sản sinh ra những khoa bảng” xứ Kinh Bắc. Văn chỉ làng Ngọc Quan gồm 6 tấm bia đá tôn vinh 46 vị khoa bảng lừng lẫy làm quan triều đình như Tể tướng Vũ Miên (kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám), Thị trung Học sĩ Vũ Trinh.
- Làng Mộ Trạch (Bình Giang, Hải Dương): Ngôi làng được phong là “lò Tiến sĩ” độc nhất vô nhị của Việt Nam với 36 vị Tiến sĩ Nho học qua các thời kỳ. Văn chỉ làng Mộ Trạch là nơi phụng thờ, tổ chức các nghi lễ khuyến học vinh danh dòng họ Vũ và các dòng họ khoa bảng danh tiếng của làng.
- Làng La Châu (Hòa Vang, Đà Nẵng): Văn chỉ La Châu tọa lạc giữa đồng ruộng bao la, là biểu tượng hiếu học lừng lẫy của tầng lớp văn nhân, sĩ phu và nhân dân vùng đất Quảng Nam – Đà Nẵng xưa.
Văn chỉ đóng vai trò như một “trung tâm văn hóa – giáo dục” của làng xã xưa, gánh vác ba công dụng cốt lõi: Thứ nhất là nơi thực hành tâm linh Nho học và Giáo dục đạo đức. Là nơi thờ phụng đức Khổng Tử và các vị tiên hiền để nhắc nhở người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ luôn sống theo đạo nghĩa cương thường của Nho giáo, rèn luyện nhân cách, tôn sư trọng đạo, hiếu thuận gia đình và trung nghĩa quốc gia. Thứ nhì là vinh danh và lưu danh học thuật. Ở đó khắc ghi bia đá họ tên, khoa thi, chức tước của những người trong làng đỗ đạt từ Tú tài, Cử nhân đến Tiến sĩ để làm rạng danh dòng tộc. Làng chia ban thờ tại Văn chỉ theo ngôi vị học thuật rõ ràng: đại khoa ban giữa, trung khoa ban hữu, tiểu khoa ban tả. Cuối cùng, nó là một thiết chế khuyến học trường tồn với thời gian. Văn chỉ thường gắn liền với ruộng “Học điền” (đất công của làng cắt riêng ra). Hoa lợi thu hoạch từ ruộng học điền một phần dùng cho việc cúng tế Xuân Thu nhị kỳ tại Văn chỉ, phần còn lại dùng để trả lương cho các thầy đồ mở lớp dạy chữ Hán trong làng và làm học bổng giúp đỡ học trò nghèo hiếu học vượt khó.
Nếp sinh hoạt tại Văn chỉ đã có những biến chuyển sinh động qua thời gian để thích ứng với dòng chảy thời đại. Thời phong kiến, nó là nơi thực hiện lễ tế Xuân Thu nhị kỳ diễn ra định kỳ vào tháng Hai và tháng Tám âm lịch hằng năm. Đây là đại lễ do Hội Tư Văn (tổ chức của những người có học, đỗ đạt hoặc đang dùi mài kinh sử trong làng) đứng ra tổ chức tế Khổng Tử và bái tế Tiên hiền quê hương vô cùng trang trọng. Nó cũng là nơi diễn ra các lễ vinh quy bái tổ khi các sĩ tử trong làng đỗ đạt trong các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình. Ngày vinh quy bái tổ về làng, nghi thức đầu tiên là phải đến Văn chỉ thắp hương báo công với Tiên thánh và tổ tiên, sau đó mới rước võng lọng ra đình tế Thành hoàng và về từ đường dòng họ. Văn chỉ cũng là nơi diễn ra lễ Họp Làng Văn. Các bô lão và quan chức coi việc Văn chỉ tổ chức các buổi bình văn, bình thơ của các nho sĩ, học trò trong vùng vào các ngày rằm, mùng một. Ở Bát Tràng, mỗi dịp tế tự Văn chỉ, quan viên sẽ treo hai bức trướng vóc thêu sắc sảo họ tên của các vị khoa bảng lên giữa Đại bái để thế hệ trẻ chiêm ngưỡng và lấy đó làm gương phấn đấu.
Trong đời sống đương đại, hầu hết các Văn chỉ/Văn từ cổ sau giai đoạn chiến tranh và bao cấp đã được nhân dân và chính quyền địa phương chung tay trùng tu tôn tạo, thổi vào đó một luồng sinh khí mới. Văn chỉ trở thành trung tâm khuyến học – khuyến tài. Sinh hoạt lớn nhất tại các Văn chỉ ngày nay là các đại lễ phát thưởng khuyến học hằng năm. Vào dịp đầu năm học mới hoặc sau kỳ thi đại học, các dòng họ và ban đại diện làng sẽ tập trung học sinh, sinh viên tại Văn chỉ để dâng hương báo công, trao học bổng cho học sinh nghèo vượt khó và vinh danh những tân khoa đỗ đạt Đại học, Thạc sĩ, Tiến sĩ, phong hàm Giáo sư hiện đại. Văn chỉ cũng là không gian bảo tồn di sản văn hóa, là nơi sinh hoạt của Hội người cao tuổi, nơi mở các lớp truyền dạy chữ viết Hán – Nôm, nghệ thuật thư pháp và là địa điểm tổ chức các triển lãm giới thiệu lịch sử khoa bảng quê hương cho thế hệ trẻ và khách du lịch.
Nếu Văn Miếu Quốc Tử Giám đại diện cho ý chí học thuật đỉnh cao mang tầm quốc gia, thì các Văn chỉ được bao bọc yên bình trong các làng quê chính là những thiết chế bền vững của dân gian giáo dục. Nó cho thấy đạo học của người Việt không chỉ tồn tại ở chốn cung đình quý tộc mà đã bén rễ sâu sắc thành mạch nguồn văn hóa bền bỉ của người nông dân, thợ thủ công bình dân. Trong cấu trúc làng xã xưa, Văn chỉ tạo ra một hệ giá trị tinh thần thiêng liêng để đối trọng và cân bằng với thước đo vật chất. Một người dù giàu có đến đâu nhưng không có chữ nghĩa thì trong các dịp lễ hội làng cũng không được ngồi ở những vị trí tôn nghiêm (như bốn chiếc chiếu cạp điều tôn kính tại Đình làng Bát Tràng xưa). Sự tôn vinh tri thức thông qua Văn chỉ đã hướng người dân đến lối sống trọng đạo đức, nghĩa tình và học vấn hơn là mưu cầu tiền tài danh vọng ích kỷ. Cuối cùng, đó là minh chứng của tinh thần dung hợp văn hóa. Người Việt đã tiếp thu Nho giáo từ phương Bắc nhưng không tiếp nhận một cách thụ động. Thông qua thiết chế Văn chỉ, người Việt đã “bản địa hóa” tư tưởng Nho học. Khổng Tử được thờ phụng, nhưng bên cạnh ông là những người thợ, người thầy, những người nông dân hiếu học của chính quê hương bản địa. Nó biến Nho giáo thành nguồn lực nội sinh để xây dựng gia phong cốt cách bền vững của con người Việt Nam suốt nghìn năm văn hiến.
Nhìn sang Trung Quốc, cái nôi của Nho giáo, ta cũng thấy họ có một hệ thống Văn miếu rộng lớn, chặt chẽ, nhưng dường như không có Văn chỉ giống như Việt Nam. Ở đó có hẳn một Hiệp hội Khổng Miếu Quốc gia, có khoảng 1.600 Văn miếu hình thành một hệ thống to lớn và chặt chẽ, phân chia thành các cấp bậc vô cùng nghiêm ngặt, phản ánh trật tự lễ giáo Nho gia, với quy mô và vật liệu xây dựng được quy định chặt chẽ dựa trên cấp hành chính. Cấu trúc cấp bậc bao gồm: Quốc tử giám (cấp Trung ương tại kinh đô), Phủ học Văn miếu (cấp phủ/châu), và Huyện học Văn miếu (cấp huyện). Các hoạt động ở đây cũng vô cùng phong phú, từ giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa. Nhưng đây sẽ cần một bài nghiên cứu khác.
Đến Văn chỉ Bát Tràng, ta không viếng thăm một di tích, mà chứng kiến một biểu tượng hiếu học sống động. Nó vẫn được gìn giữ, đi cùng các câu chuyện được các đời con cháu nối tiếp mang ra kể cho nhau nghe và tiếp mạch nguồn văn hóa. Họ không chỉ kể, họ đang sống với những giá trị ấy. Vì thế mà giá trị truyền thống vẫn tham gia vào kiến tạo cuộc sống đương đại.
Nhìn hàng chữ “ngưỡng di cao”, lại nhớ thêm câu nói “thiên ngoại hữu thiên, nhân ngoại hữu nhân”, người ta dễ thấy mình bé lại, nhưng cũng lại có thêm động lực để tu thân và vươn lên.