Mới đây, tổ chức định giá thương hiệu hàng đầu thế giới Brand Finance đã công bố một kết quả khiến nhiều người chú ý: Viettel chính thức vươn lên vị trí số 1 về sức mạnh thương hiệu trong nhóm viễn thông toàn cầu. Việc một doanh nghiệp đi sau, khởi nguồn từ một quốc gia đang phát triển có thể vượt mặt hàng loạt gã khổng lồ công nghệ để đứng trên đỉnh thế giới không phải là phép màu. Đó là quả ngọt của một chuỗi chiến lược xuất sắc của tập đoàn hàng đầu Việt Nam. Trong số đó, người ta còn nhớ bài học kinh điển “Lấy nông thôn bao vây thành thị”, một trong những chiến lược xoay chuyển cục diện thị trường viễn thông từ thập kỉ trước tại Việt Nam. Tuy vậy, ít người để ý gốc gác của chiến lược này lại được hình thành gần 100 năm trước ở vùng đất Hồ Nam, gắn với nhà cách mạng Mao Trạch Đông.

Chiến lược “Lấy nông thôn bao vây thành thị” không chỉ định hình con đường đi đến thành công của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) mà còn là một trong những di sản sâu sắc nhất đối với nghệ thuật chiến tranh du kích toàn cầu. Đây là một bước đột phá về lý luận và thực tiễn của Mao Trạch Đông, đánh dấu sự đoạn tuyệt mạnh mẽ với các giáo điều cách mạng truyền thống từ phương Tây và Liên Xô.

Theo học thuyết Mác – Lênin truyền thống và các chỉ thị từ Quốc tế Cộng sản (Comintern) tại Moscow, một cuộc cách mạng vô sản nhất thiết phải dựa vào lực lượng công nhân công nghiệp ở các trung tâm thành thị. Trong những năm 1920, CCP đã nỗ lực áp dụng mô hình này, tổ chức công nhân bạo động để cướp chính quyền tại các thành phố lớn như Thượng Hải, Nam Xương và Trường Sa. Tuy nhiên, thực tế tàn khốc đã chứng minh sự thất bại của đường lối này. Giai cấp công nhân thành thị tại Trung Quốc khi đó quá ít ỏi, trong khi Quốc dân đảng (do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo) lại sở hữu sức mạnh hỏa lực áp đảo và thẳng tay đàn áp. Đến năm 1927, CCP bị đẩy đến bờ vực sụp đổ.

Khi đó, Mao Trạch Đông đã nhìn thấy sự thật rất khác với thực tế ở châu Âu, rằng Trung Quốc là một nước nông nghiệp lạc hậu với 80-90% dân số là nông dân, lực lượng cách mạng nòng cốt không nằm ở các đô thị, mà chính là hàng trăm triệu nông dân bần cùng đang khao khát ruộng đất. Sự chuyển hướng lịch sử bắt đầu từ góc nhìn mẫn tiệp của Mao Trạch Đông, gắn liền với quê hương ông: vùng đất Hồ Nam, vốn có truyền thống cách mạng, đồng thời là một tỉnh nông nghiệp với hàng triệu bần nông bị áp bức. Qua quá trình trực tiếp quan sát phong trào nông dân tại đây (đúc kết trong “Báo cáo điều tra phong trào nông dân Hồ Nam” năm 1927), Mao nhận ra một chân lý đi ngược lại tư duy của Moscow: sức mạnh núi lửa không nằm ở thành thị, mà ở chính những người nông dân, ở chính vùng nông thôn.

Quá trình chuyển dịch trọng tâm cách mạng từ thành thị về nông thôn đã trải qua ba giai đoạn mang tính bước ngoặt.Trước hết là rút lui và lập căn cứ địa (1927 – 1934): Sau thất bại của Khởi nghĩa Thu thu, Mao Trạch Đông và Chu Đức dẫn tàn quân rút sâu vào các vùng rừng núi hiểm trở (như Tỉnh Cương Sơn, sau mở rộng ra Giang Tây – Phúc Kiến). Tại đây, họ thử nghiệm mô hình chính quyền Xô viết nông thôn, dựa vào bần nông và kết nạp cả những lực lượng bị gạt ra bên lề xã hội. Sau đó là thực hiện cuộc Vạn lý Trường chinh và củng cố (1934 – 1935). Đứng trước vòng vây siết chặt bằng hệ thống lô cốt của Quốc dân đảng, CCP buộc phải thực hiện cuộc Vạn lý Trường chinh vô cùng gian khổ. Họ rút lui để tìm kiếm một căn cứ địa an toàn hơn tại Diên An (Thiểm Tây), nằm sâu trong nội địa phía Tây Bắc. Cuối cùng, phát triển mạnh mẽ trong Kháng chiến chống Nhật (1937 – 1945). Tận dụng lúc quân Nhật đang dồn lực kiểm soát đô thị và tuyến đường sắt, CCP đã len lỏi sâu vào vùng nông thôn Hoa Bắc rộng lớn phía sau chiến tuyến. Tại các “vùng giải phóng” này, lực lượng của họ đã phát triển lên tới gần 1 triệu quân chính quy cùng hàng triệu dân quân.

Sức mạnh của chiến lược này nằm ở sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ba yếu tố: chính trị, kinh tế và quân sự. Về chính trị, xây dựng căn cứ địa từ vùng lõm. CCP chọn những vùng nông thôn hẻo lánh, hiểm trở để lập căn cứ. Từ hạt nhân an toàn này, cán bộ tỏa đi các vùng lân cận để tổ chức và thuyết phục dân chúng. Về kinh tế, thực hiện cải cách điền địa và “đường lối quần chúng”. Nhu cầu ruộng đất của nông dân được giải quyết triệt để thông qua việc tịch thu đất của địa chủ chia cho bần nông (hoặc giảm tô, giảm tức thời chống Nhật). Đổi lại, quần chúng dành cho CCP sự ủng hộ tuyệt đối. Nông dân trở thành nguồn cung cấp tân binh khổng lồ, hậu cần vững chắc và mạng lưới tình báo ưu việt, tạo nên môi trường sống lý tưởng để quân đội hoạt động như “cá trong nước”. Về quân sự, sử dụng chiến thuật kìm chân và tiêu hao tại đô thị. CCP chủ động từ bỏ việc cố thủ thành phố. Mao Trạch Đông lập luận sắc bén với tư duy của một bậc thầy du kích chiến: khi địch chiếm một thị trấn, chúng có thể không mất lính ngay, nhưng buộc phải để lại khoảng 40.000 quân canh giữ đồn bốt. Hậu quả là lực lượng địch bị phân tán, “nhốt” trong các đô thị và phụ thuộc vào tuyến tiếp tế mỏng manh. Cùng lúc đó, quân du kích tự do hoạt động ở nông thôn, bao vây, phục kích và cắt đứt đường vận chuyển.

Trong cuộc đụng độ Quốc – Cộng (1946 – 1949), nghịch lý của chiến tranh đã bộc lộ rõ rệt. Dù sở hữu vũ khí hiện đại, kiểm soát mọi đô thị và tuyến đường sắt trọng điểm, quân đội Quốc dân đảng lại biến thành những “hòn đảo cô lập” giữa đại dương nông thôn của CCP. Quân đội của Mao chỉ giao chiến khi nắm chắc ưu thế áp đảo tại các điểm cục bộ. Hệ quả là quân Quốc dân đảng dần bị bao vây, cắt đứt hoàn toàn nguồn cung cấp thực phẩm và thông tin tình báo. Tinh thần quân địch suy sụp, đội ngũ tan rã. Khi không còn vùng nông thôn hậu thuẫn, các thành phố lớn cuối cùng đã tự sụp đổ hoặc phải đầu hàng (điển hình như trận Hoài-Hải).

Tháng 3 năm 1949, với việc kiểm soát hàng loạt đô thị lớn, Mao Trạch Đông chính thức tuyên bố chấm dứt chiến lược cũ: “Từ năm 1927 đến nay, trọng tâm công tác của chúng ta là ở nông thôn… Thời kỳ cho phương pháp làm việc này nay đã kết thúc. Thời kỳ thành thị lãnh đạo nông thôn nay đã bắt đầu.” Cách mạng chuyển từ nông thôn sang trung tâm quyền lực ở thành thị.

Về mặt tư tưởng, chiến lược này đại diện cho quá trình “Hán hóa” (Sinification) chủ nghĩa Mác thành công nhất. Nó điều chỉnh lý luận phương Tây cho phù hợp với đặc thù của một quốc gia phương Đông, minh chứng rằng một cuộc cách mạng vô sản hoàn toàn có thể thành công dựa vào nông dân thay vì công nhân, chính thức phá vỡ các giáo điều cứng nhắc từ Moscow. Thắng lợi vĩ đại này đã nâng tầm uy tín của Trung Quốc. Chiến lược “chiến tranh nhân dân” và “lấy nông thôn bao vây thành thị” nhanh chóng trở thành “sách giáo khoa” mẫu mực cho các phong trào giải phóng dân tộc và chiến tranh du kích tại nhiều quốc gia thuộc Thế giới thứ ba (Châu Á, Châu Phi, Mỹ Latinh) xuyên suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Trước mô hình chiến tranh phi tập trung và dựa vào sức mạnh quần chúng này, cả Liên Xô và Mỹ đều không thể áp đặt thành công các học thuyết quân sự quy ước của mình.

Trở lại với thế kỷ 21 tại Việt Nam, chiến lược quân sự vĩ đại này đã được Viettel “phiên dịch” xuất sắc sang ngôn ngữ kinh doanh. Khi Viettel chập chững bước vào thị trường viễn thông, các “ông lớn” như VinaPhone và MobiFone đã đóng rễ sâu ở các đô thị sầm uất, khai thác tập khách hàng thu nhập cao. Thay vì lao vào các trung tâm thành phố để đối đầu trực diện trong một “đại dương đỏ” nhuốm máu, Viettel chọn lối đi khác: Băng rừng, lội suối, đưa trạm phát sóng về tận các vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Viettel đã biến những người nông dân, sinh viên, người lao động thu nhập thấp – những người bị các mạng khác bỏ quên – thành “lực lượng quần chúng” của mình. Bằng cước phí rẻ và độ phủ sóng vô địch, Viettel thiết lập các “căn cứ địa” vững chắc ở nông thôn. Khi dòng người từ nông thôn đổ về thành thị học tập và làm việc, họ mang theo chiếc sim Viettel. Cùng với chiến lược phát triển hạ tầng rộng khắp với chi phí cực thấp để mang lại khả năng tiếp cận dịch vụ viễn thông cho tầng lớp ít có điều kiện nhất. Từng bước một, Viettel dùng số đông áp đảo từ ngoại vi để “bao vây” và tiến chiếm thị phần thành thị, cuối cùng lật đổ thế độc quyền và vươn lên dẫn đầu. Không dừng lại ở nội địa, Viettel tiếp tục mang đúng công thức này đi “mở cõi” tại các thị trường quốc tế (như châu Phi, châu Mỹ Latinh) và thu về quả ngọt là vị trí số 1 sức mạnh thương hiệu toàn cầu hiện nay.

Sự kiện của Viettel và bài học từ lịch sử mang đến những hàm ý quản trị có sức nặng cho các nhà lãnh đạo hiện đại. (1) Hãy vượt qua giáo điều để biết cách dựa vào thực tiễn. Moscow sai vì áp dụng máy móc mô hình của châu Âu vào Trung Quốc. Các doanh nghiệp dễ thất bại khi copy nguyên si chiến lược hoặc lí luận phương Tây vào thị trường đặc thù. Chiến lược giỏi nhất không nằm trong sách vở, mà nằm ở việc thấu hiểu “thổ nhưỡng”, thực tế của thị trường mình đang đứng, và “cơ địa” của bản thân. Biết người biết ta mới mong có hướng đi đúng đắn. (2) Lợi thế cạnh tranh thường nằm ở nơi bị lãng quên. Đừng luôn nhắm vào phân khúc “màu mỡ” nhất nếu bạn là kẻ đến sau. Hãy tìm kiếm những nhu cầu chưa được đáp ứng ở vùng ven, phân khúc bình dân hoặc ngách thị trường bị các ông lớn phớt lờ. Giải quyết nỗi đau cho số đông ở “nông thôn”, bạn sẽ có lực đẩy để tiến vào “thành thị”. (3) Xây dựng hệ thống bằng nỗ lực và sự kiên nhẫn: Lấy nông thôn bao vây thành thị không phải là chiến thuật đánh nhanh thắng nhanh. Nó đòi hỏi tầm nhìn dài hạn, chấp nhận khó khăn ban đầu (như Viettel kéo cáp lên núi hay Mao rút lên Tỉnh Cương Sơn) để tích lũy lượng, chờ ngày bùng nổ thành chất. Cuối cùng, hãy lưu ý rằng những bài học tư duy chiến lược sâu sắc có khi nằm sẵn trong lịch sử, ở những lĩnh vực có thể không liên quan trực tiếp.
Chiến lược cách mạng của Mao  đầu thế kỉ 20 lại trở thành hạt nhân để trở thành chiến lược kinh doanh xuất sắc của một tập đoàn công nghệ một thế kỉ sau. Điều đó là nhờ năng lực tư duy và học hỏi theo tinh thần thực sự cầu thị, không định kiến, liên ngành, kết hợp với hành động táo bạo để hiện thực hóa mục tiêu tưởng như không thể.